TRANG CHỦ / Blog du lịch / Độc đáo tết giữa năm Va - Ha (Sút Yâng) của người Chăm đạo Bà Ni tại Bình Thuận

Độc đáo tết giữa năm Va - Ha (Sút Yâng) của người Chăm đạo Bà Ni tại Bình Thuận

Chúng tôi nhận được bức hình thật đẹp của nghệ sĩ nhiếp ảnh Hoàng Thạch Vân chụp lễ Tết giữa năm Va – Ha  của người Chăm đạo Bà Ni, tại chùa (Thánh đường) thôn Cảnh Diễn, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.

Đây chính là một phần trong Kinh hội xoay vòng, tiếng Chăm gọi là lễ hội “Sút Yâng”, một lễ lớn và quan trọng của người Chăm Bà Ni cầu quốc thái dân an, cuộc sống an lành.
 

TẾT GIỮA NĂM VA – HA CỦA NGƯỜI CHĂM BÀ NI THẬT ĐỘC ĐÁO LÔI CUỐN DU KHÁCH

 

Ảnh: Hoàng Thạch Vân

Kinh hội xoay vòng là dịp để đồng bào Chăm Hồi giáo thể hiện lòng tôn kính đối với các bậc tổ tiên, cầu cho xóm làng yên ấm, mưa thuận gió hòa và mùa màng tươi tốt. Ở mỗi địa phương khác nhau thì lễ Sút Yâng lại có sự khác biệt trong ngày tháng và độc đáo riêng trong việc tổ chức.

Theo giáo luật, ông Tổng sư cả phải chọn ngày đầu tiên cho thánh đường đầu tiên làm lễ và luôn đúng vào thứ sáu. Theo qui định từ xa xưa của tổ tiên, thánh đường đầu tiên thực hiện Kinh hội xoay vòng là thánh đường thôn Bình Hòa. Đây là thánh đường gốc được xây dựng đầu tiên trong 6 thánh đường ở Bắc Bình, tiếp đến là thánh đường thôn Bình Thắng, thôn Bình Minh (xã Phan Hòa); thánh đường thôn Cảnh Diễn, thôn Thanh Khiết và cuối cùng lễ hội sẽ được diễn ra ở thánh đường thôn Châu Hanh (xã Phan Thanh).

Theo lời kể của nghệ sĩ nhiếp ảnh Hoàng Thạch Vân, hôm qua anh và nhiều anh em tham dự lễ Tết giữa năm này, gọi là Va – Ha, tại Thánh đường thôn Cảnh Diễn, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận, kéo dài đến tận sáng nay thì chấm dứt.

Những hình ghi lại là một không khí lễ hội đầy màu sắc, với những người phụ nữ ăn mặc thật đẹp, trẻ em cũng tung tăng và cách đàn ông thì ngồi với nhau trong thánh đường thật ngay ngắn.
 

Ảnh: Hoàng Thạch Vân

Một người phụ nữ lớn tuổi chia sẻ: “Hàng năm, vào mùa Kinh hội xoay vòng, tôi đều mang những lễ vật là trầu cau, thuốc lá, bánh, chuối đến dự đầy đủ ở cả 6 thánh đường để cầu mong thượng đế phù hộ, khấn vái ông bà tổ tiên ban phước lành cho gia đình tôi. Tôi sẽ đi cho đến khi nào không còn đi nổi nữa thì con cháu tôi sẽ đi”.
 

Ảnh: Hoàng Thạch Vân

Có thể thấy, người Chăm nơi đây rất coi trọng những nghi thức tín ngưỡng của mình, tạo nên nét văn hóa truyền thống lưu truyền cho nhiều thế hệ.
 

HỆ THỐNG LỄ HỘI VÀ TÍN NGƯỠNG NGƯỜI CHĂM ĐẠO BÀ NI VÔ CÙNG PHONG PHÚ


Theo nhiều ghi chép để lại, từ thế kỷ 10 đạo Hồi đã được truyền vào Chăm Pa, tuy nhiên từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 15 đạo Hồi vẫn chưa phải là tôn giáo chính thống, từ sau khi Chăm Pa suy vong, nhiều người Chăm bỏ tôn giáo truyền thống là đạo Bà La Môn để theo Hồi giáo, từ đó Hồi giáo có chỗ đứng đáng kể trong cộng đồng người Chăm và chính từ thời điểm này, sự giao hòa giữa đạo Hồi và đạo Bà La Môn đã hình thành ra một tôn giáo mới của người Chăm, đó là đạo Bani (đạo Bà Ni).

Tên gọi Bani được chuyển từ tiếng Ả Rập Beni (có nghĩa là con trai của đấng tiên tri Mohammed). Các cơ sở thờ tự của đạo Bani gọi là chùa (thánh đường), đình trong đó chùa là nơi các tu sĩ ở và tế lễ vào những ngày lễ, còn đình là nơi tín đồ thường xuyên đến tế lễ.
 

Ảnh: Hoàng Thạch Vân

Các chùa và đình được xây dựng đơn giản, hình thức bên ngoài và cách bố trí bên trong có sắc thái riêng mang tính địa phương không giống như các thánh đường Hồi giáo khác trên thế giới. Chùa thường được mở vào tháng Ranuwan (là tháng Ramadan của Hồi giáo nhưng đồng thời có thêm vào những tín ngưỡng địa phương của người Chăm), hiện nay toàn đạo Bani có 17 chùa.

Tổ chức của đạo Bani chủ yếu ở từng chùa, mỗi chùa ngoài Sư cả (Cả chùa) và các vị chức sắc chăm lo việc đạo, đều có thêm ban cai quản chùa, ban cai quản chùa có nhiệm vụ chăm lo đời sống tôn giáo cho tín đồ, Tổng sư cả là người được các sư cả suy tôn, có uy tín lớn trong đạo.
 

Ảnh: Hoàng Thạch Vân
 
Đạo hồi Chăm Bani hiện có khoảng 39.000 tín đồ người Chăm và có khoảng hơn 400 vị tu sĩ, chức sắc tại Ninh Thuận và Bình Thuận.

Hệ thống lễ hội và tín ngưỡng của người Chăm, đặc biệt là người Chăm đạo Bà Ni, thật sự phong phú cần được tìm hiểu và trải nghiệm. Chẳng hạn, những lễ hội quan niệm về nguồn gốc tổ tiên như  Lễ Bơn Katê, là một lễ hội truyền thống được tổ chức long trọng để bày tỏ sự tôn kính của cư dân với Trời (Cha), đã có công sinh ra vạn vật, thuộc về khí dương.

Lễ hội này được cử hành vào ngày 1/7 (Chàm lịch), tức khoảng tháng 10 dương lịch. Năm nay, lễ hội Katê dân tộc Chăm ở Bình Thuận sẽ chính thức diễn ra từ ngày 7 - 9/10/2018 tại Di tích tháp Pô Sah Inư (TP. Phan Thiết) với yêu cầu tổ chức theo đúng phong tục tập quán truyền thống của người Chăm địa phương. Các hoạt động giữa phần lễ và phần hội cũng phải có sự gắn kết hài hòa, khép kín tạo nên không khí vừa trang nghiêm vừa vui tươi, lành mạnh, phấn khởi, đoàn kết trong cộng đồng các dân tộc…
 

Ảnh: Hoàng Thạch Vân

Tiếp đó là Lễ Bơn Cabur, lễ này có ý nghĩa bày tỏ sự tôn kính với Đất (Mẹ) – người đã nuôi nấng làm cho vạn vật sinh tồn và phát triển, thuộc về khí âm. Lễ  Bơn Cabur được cử hành vào ngày 16/9 (Chàm lịch) tức khỏang tháng 12 hoặc tháng 1 dương lịch.

Lễ Parla Rija Sah, lễ này cử hành nhằm ngày 10/2 (Chàm lịch) và kéo dài trong một thời gian khoảng 5 ngày liên tục, với ý nghĩa bày tỏ sự tôn kính đối với vi Thánh Mẫu Po InưNagar đã có công tạo dựng nước Chămpa xưa, được tôn vinh là mẹ của xứ sở, sinh ra cây lúa và hướng dẫn cư dân trồng lúa, làm thủy lợi và dệt vải…
 

Ảnh: Hoàng Thạch Vân

Theo các sử gia, người Chăm Bà Ni còn có những lễ hội truyền thống và tín ngưỡng dân gian được tạo nên bởi lệ tục của từng vùng, từng làng. Đó là các Lễ Ngap Kubao, là một lễ hội về nông nghiệp được tổ chức bảy năm một lần; Lễ Hamu Cãnrov, là lễ cúng hiến, được tổ chức trước thời vụ cày cấy, nhằm mục đích cầu xin thần linh ban cho dân làng và muôn dân một mùa bội thu; Lễ Char Prong, còn gọi là lễ cầu yên; đặc biệt là Lễ Sug Yơng (Sút Yâng) , còn gọi là Kinh hội hoặc Kinh hội xoay vòng.
 

LỄ HỘI SÚT YÂNG (HAY KINH HỘI XOAY VÒNG) CẦU QUỐC THÁI DÂN AN ĐẦY QUYẾN RŨ

 

Ảnh: Hoàng Thạch Vân

Kinh hội xoay vòng được cử hành vào khoảng tháng 5 Chàm lịch, tức vào khoảng tháng 8 dương lịch. Theo Hồi lịch, cứ 8 năm tháng Ramadan được lùi lại 3 lần, do vậy Lễ Sút Yâng bao giờ cũng phải được diễn ra ở Thánh đường cuối cùng trước tháng Ramadan 30 ngày. Có lễ Sút Yâng thì mới có lẽ hội Ramưwan trong tháng Ramadan. Nó có ý nghĩa quan trọng không chỉ với hàng tu sĩ và những người Chăm Bà Ni mà là sự hội ngộ giữa những người trong làng, trong cộng đồng cư dân Chăm nói chung và nó còn được sự quan tâm của các dân tộc anh em.
 

Ảnh: Hoàng Thạch Vân
 
Theo truyền thống, ngày thứ 6 là ngày Thánh lễ khai hội lễ Sút Yâng, tuy nhiên lễ này ở mỗi vùng tổ chức lại có sự khác biệt nhau. Ở các cộng đồng Hồi giáo Bà Ni thuộc tỉnh Bình Thuận, mỗi năm tổ chức một lần và mỗi tuần tổ chức ở một Thánh đường theo kiểu cuốn chiếu, cho đến Thánh đường cuối cùng.
 

Ảnh: Hoàng Thạch Vân

Còn đối với cộng đồng Chăm Bà Ni ở tỉnh Ninh Thuận thì lệ 3 năm cử hành lễ một lần, vào ngày thứ 6 trong tuần và cũng tổ chức theo kiểu cuốn chiếu cho đến Thánh đường cuối cùng. Vì vậy, lễ Sút Yâng ở các cộng đồng cư dân Chăm tỉnh Ninh Thuận được tổ chức trong vòng một tháng rưỡi. Khác với lễ hội Ramưwan, lễ Sút Yâng đến lượt Thánh đường nào thì vị Sư Cả trụ trì Thánh đường đó làm chủ lễ.

Lễ hội Sút Yâng, ngoài mục đích cầu cho “quốc thái dân an”, mưa thuận gió hòa, còn là dịp cử hành nghi lễ tấu chức (thọ phong) cho 2 vị tu sĩ: Một từ phẩm Achar lên Kh.tib, một từ phẩm Kh.tib lên Mưm tân. Ngay sau khi được tấu chức, hai vị tu sĩ này thực hành ngay việc dẫn lễ cho đến thời điểm kết thúc lễ hội Ramưwan.
 

Ảnh: Hoàng Thạch Vân

Cũng theo cổ tục, mở đầu lễ nguyện vị Mưm tân đánh 3 hồi trống với ý nghĩa báo cho Thượng đế và Thiên sứ của người biết là cuộc dâng lễ đã bắt đầu; vị Tib tân trong trang phục chỉnh tề tiến ra cửa chính và ra dấu mở cửa để chào đón Thượng đế vào chứng lễ.
 

Ảnh: Hoàng Thạch Vân

Khi Thánh lễ vừa kết thúc, từng tốp người là các bà, các chị và cả các em gái trong lễ phục của áo dài truyền thống, đầu đội từng mâm lễ vật cúng hiến cho Thượng đế và ông bà tổ tiên. Các mâm lễ vật được phủ kín bởi những tấm vải mới và đẹp, mỗi mâm được phủ một màu khác nhau. Đây là một tiệc lễ có ý nghĩa cúng hiến, nếu cuộc lễ cúng hiến lớn cũng có nghĩa là lễ Sút Yâng  mang lại cho dân làng nhiều điều tốt lành.

Sau khi lễ Sút Yâng  tại Thánh đường kết thúc, trong từng gia đình tín đồ cũng làm lễ hiến dâng Thượng đế và ông bà, tổ tiên. Một mặt, mừng lễ Sút Yâng đã kết thúc, mặt nữa thể hiện sự đền ơn, đáp nghĩa và phát huy truyền thống gắn kết trong dòng tộc và tính liên kết cộng đồng giữa mỗi họ tộc với xóm làng.

LÊ NGUYỄN
 
Ảnh: Nghệ sĩ Nhiếp ảnh HOÀNG THẠCH VÂN