TRANG CHỦ / Blog du lịch / Thăm di tích cổ nhất miền Tây - Ao Bà Om và Chùa Âng 1000 năm tuổi - Những câu truyện truyền kỳ ảo diệu

Thăm di tích cổ nhất miền Tây - Ao Bà Om và Chùa Âng 1000 năm tuổi - Những câu truyện truyền kỳ ảo diệu

Sau khi thăm quan ngôi chùa cổ Giác Lâm tại Sài Gòn, tôi được người bạn Việt Nam, bà Hoa, kể cho nghe về một điểm du lịch tâm linh khác thuộc dạng cổ nhất (lâu đời nhất) ở miền Tây Nam bộ Việt Nam, Ao Bà Om và ngôi chùa cổ mà mọi người nó có khi đến 1000 năm tuổi trong quần thể này.

Người Việt vừa qua tháng chay Vu Lan là tháng 7 Âm lịch thì người Khơmer bắt đầu mùa lễ lớn kéo dài trong tháng 8 Âm lịch. Câu chuyện đến nay còn nhiều điều khó hiểu với tôi, nhưng qua đó tôi thấy được tinh thần lao động và vượt qua gian khó do thiên nhiên của những con người đất Việt thật phi thường.
 

RẤT NHIỀU CÂU CHUYỆN DỊ BẢN HUYỀN BÍ VỀ AO BÀ OM   
 


 
Khi thấy tôi quan tâm đến tập tục và đời sống tâm linh người Việt, bà Hoa hào hứng chỉ cho tôi xem một số hình ảnh về Ao Bà Om và ngôi chùa Âng kỳ bí dễ có đến ngàn năm tuổi. Theo bà, khẳng định ngôi chùa và cái ao vuông vức kỳ bí nhiều năm tuổi như thế bởi vì những cái cây cổ thụ quanh Ao Bà Om chắc chắc vô cùng lâu năm, trông nó to lớn và những cái rễ cây khổng lồ kỳ dị.
 

Bà Hoa chỉ vài người bạn trên facebook và kể, đây là Dương Thanh, người 28 năm trước đã đến đây thăm viếng Ao Bà Om, sau khi về chưa đầy một năm thì cưới vợ và sống hạnh phúc đến nay. Họ vừa mới quay về đây thăm quan lại chốn này. Còn đây, một người bạn khác kể: “Chả biết sao chứ mỗi lần em ghé chỗ này ắt hẳn 10 tháng sau "em #ôm thêm một cục. Không biết #tên #ao có liên quan gì không?”. Bà giải thích, ý là người này cứ đến đây xong về là có thêm một đứa con, và họ đang nói không biết têm ao này là Om, nhưng có phải liên quan đến Ôm hay không, về ôm vợ là có thêm con…
 

 
Tôi thật sự tò mò. Tìm hiểu mới biết, Ao Bà Om hay còn gọi là Ao Vuông (vì ao vuông cạnh), là một thắng cảnh độc đáo và nổi tiếng ở tỉnh Trà Vinh, thuộc khóm 3, phường 8 thành phố Trà Vinh (trước đây là ấp Tà Cụ, xã Nguyệt Hóa, huyện Châu Thành), cách trung tâm thành phố Trà Vinh khoảng 7 km dọc theo Quốc lộ 53 về phía Tây Nam.

Ao Bà Om thật sự là đặc biệt nên tỉnh Trà Vinh đang xây dựng là một điểm du lịch tâm linh đặc sắc của tỉnh. Đến đây, nghe kể những câu chuyện truyền thuyết về việc hình thành cái ao Vuông, mang tên Ao Bà Om, rất ly kỳ, thấy cái chuyện nào cũng đúng. Cơ bản, nhiều người nói trước nó có một ao tròn và một ao vuông (như biểu tượng sinh thực khí Linga – Yoni) nhưng sau cái ao tròn bị lấp và không còn dấu vết. Nhưng cái ao Vuông, ao Bà Om thì vẫn còn nguyên với nước trong leo lẻo.
 

 
Khi đến đây, thật sự cảm giá được sự thanh bình hiếm có. Mọi thứ ồn ào dường như gác lại đâu đó ngoài kia, bởi trong đây là hai hàng cây phía ngoài và sát cạnh ao cách nhau một khoảng rộng, tạo thành con đường rợp bóng. Hàng cây này có lẽ là cây dầu và cây sao đã thu hút sự chú ý bởi bộ rễ kỳ dị rất to trồi lên so với mặt đất khá cao, nhiều chỗ hai cây gần nhau thì rễ của nói liền lại, cứ như cây này hút dinh dưỡng là nuôi cả cây kia.

Còn cái ao, tất nhiên nó không vuông chằn chặn mà thật ra nó có hình chữ nhật thì đúng hơn, một chiều rộng 300m, một chiều dài 500m, nhưng vì ao khá rộng nên thấy nó gần với hình vuông mà có thêm tên gọi là Ao Vuông. Trên mặt ao phù cây sen, cây súng, nước trong xanh vô cùng.

Những người dân ở đây giải thích rằng, theo truyền thuyết bao đời kể lại, để có hồ nước ngọt dùng trong mùa khô, dân làng người Khmer tổ chức cuộc thi đào ao giữa hai nhóm phái nam và nữ, đồng thời cũng để quyết định xem phái nào thua sẽ phải đi cưới hỏi phái kia.

Bên phái nam ỷ sức mạnh, vừa làm vừa chơi trong khi bên phái nữ, dưới sự lãnh đạo của một người phụ nữ tên Om, đã dùng nhiều mưu mẹo để trì hoãn nhóm nam. Khi đào gần xong, nhóm nữ cho thả đèn lồng ở phía Đông làm cho nhóm nam tưởng là sao Mai đã mọc, tức trời đã sáng, nên nghỉ sớm.

Sau cuộc thi, nhóm nam thua cuộc và ao của họ hiện vẫn còn dấu tích tuy đã cạn nước, chính là cái ao tròn mà nay không còn nữa. Ao của nhóm nữ, là Ao Vuông, được đặt tên theo tên của người phụ nữ trưởng nhóm là Bà Om. Vì thua cuộc nên qui định nam đi cưới nữ, con phải lấy họ mẹ  trong  dân  tộc  Khmer cũng bắt đầu từ đây.  

Tuy nhiên, cũng có một dị bản cho rằng, tên gọi ao Bà Om  là do xưa kia có một vị hoàng tử rất độc ác trấn nhậm vùng đất Trà Vinh, bắt dân chúng phải dâng gái đẹp cho ông  ta, ai bất tuân sẽ bị trừng trị. Vị hoàng tử này còn buộc phụ nữ phải đem lễ vật đi cưới đàn ông. Rồi có ngày có cô  gái  xinh  đẹp đến gặp hoàng tử để phản đối về tập tục bất hợp lý này, thấy cô đẹp, hoàng tử mê cô nên xóa bỏ tập tục mình đặt ra bằng cách cho mở một cuộc thi đào ao. Sau đó mọi chuyện diễn ra như chuyện kể trên.
 

 
Lại có dị bản khác cho rằng, xưa kia ông Lũy và bà Om ở với nhau có một đứa con, tuy yêu thương nhau nhưng hai người ai cũng muốn giành phần đặt tên con theo họ mình. Để được quyền đặt tên con, hai người thi tài, ông đắp lũy bà đào ao, và cuối cùng bà Om thắng, được đặt tên con gái theo họ mẹ. Ở dị bản này, nhiều người cho biết cách ao Bà Om 5 km về phía tây có một bờ lũy cổ nay đã hóa thành con đường nông thôn.

Tất nhiên, tôi cũng đồng tình cho rằng, mặc dù có nhiều cách giải thích khác nhau nhưng đều xoay quanh ba chủ đề chính: giải thích tên gọi ao Bà Om, lý giải việc người nam đi cưới người nữ và tại sao người Khmer có tục lệ theo họ mẹ.
 

Bà Hoa nói với tôi rằng, theo các nhà sử học và nghiên cứu văn hóa dân gian thì có khoảng 10 dị bản để giải thích địa danh ao Bà Om gồm đủ các thể loại của truyện kể dân gian như: truyện cổ tích, truyện dã sử, truyền thuyết, giai  thoại... Có thể nói đây là một trường hợp có nhiều giả thuyết nhất về tên gọi địa danh ở Đồng bằng sông Cửu Long. Quan trọng nhất những câu chuyện này có tính hiện thực lịch sử là những gian khổ mà cha ông ta phải đối mặt thuở ban đầu đi khai phá đất phương Nam.
 

NHIỀU HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA LIÊN QUAN ĐẾN CÁC DI TÍCH TRONG QUẦN THỂ AO BÀ OM VÀ CHÙA ÂNG
 


 
Đến đây, chúng tôi cũng được giới thiệu đến một Bảo tàng Khơmer và một ngôi chủa nhỏ gần ao Bà Om. Thật bất ngờ, ngôi chùa nhỏ ấy chính là chùa Âng (còn gọi là Angkorajaborey), mà người ta nó có đến 1000 tuổi, từ thời Thủy Chân Lạp. Tôi không hình dung được 1000 năm thế nào, nhưng vài trăm năm thì có lẽ có thể, có trước cả thời mở nước…

Những người ở đây rằng, chùa Âng là ngôi chùa Khơmer cổ nhất Việt Nam theo truyền thuyết được xây dựng vào năm 990 tức cuối thế kỷ 10, độc đáo và hài hoà với cảnh sắc thiên nhiên. Chùa Âng đang lưu giữ nhiều giá trị về nghệ thuật kiến trúc lẫn nét đẹp tôn giáo, đến ngày nay là một trung tâm văn hóa, giáo dục quan trọng đối với đồng bào Khơmer và nhân dân trong vùng.
 

Chùa Âng được xây dựng hoàn toàn theo phong cách chùa Khơmer Nam bộ. Xung quanh chùa có hào nước sâu bao bọc; cổng chùa là ba ngọn tháp cao có đắp biểu tượng con chằn; phía trước chính điện là 6 cây cột cao, chạm khắc nhiều hình tiên nữ, chim thần vô cùng sống động; mái chùa khá đặc biệt, lợp ngói, chia thành 3 tầng, được chống đỡ bằng 12 cột gỗ quý…

Chùa Âng có cửa chính mở về hướng Đông, cửa hậu mở về hướng Tây, dẫn vào chính điện nơi đặt bệ thờ theo phái Phật giáo Nam Tông, thờ Phật Thích Ca với tượng Phật chính và khoảng 50 tượng Phật lớn nhỏ ở xung quanh. Các bức tường xung quanh và trần chính điện là những bức tranh vẽ, kể về bốn giai đoạn trong cuộc đời Đức Phật: Đản sanh, xuất gia, đắc đạo và nhập niết bàn.
 

Khá thú vị, vào tháng 8 Âm lịch hàng năm chủa này cũng như những chùa Khơmer khác có một tháng lễ lớn, theo ba bước.

Bước thứ nhất gọi là Kan-banh, bắt đầu từ ngày 1 đến ngày 14. Bà con đem đồ cúng vào chùa để các nhà sư làm nghi thức lễ hội. Ngày cuối cùng của Kan-banh, mỗi gia đình đều gói bánh tét, bánh chuối, bánh ít để cúng chùa, cúng ông bà và tặng những người thân thích.

Bước thứ hai, đúng vào ngày Rằm tháng 8 Âm lịch, gọi là Phchubanh. Người ta chuẩn bị rất chu đáo các lễ vật đem lên chùa. Đến trưa, sau khi dâng cơm sư sãi, họ làm lễ rước vong hồn linh thiêng của ông bà, cha mẹ về nhà để gần gũi con cháu.

Bước thứ ba là lễ cúng đưa. Bà con dọn cơm cúng, khấn vái xong, để thức ăn đồ uống vào chiếc xuồng làm bằng bẹ chuối thả xuống mương rạch gần nhà để ông bà đem theo. Sau đó, mọi người tiếp tục vui chơi.  
 

 
Sau lễ hội này, vào tháng 10 Âm lịch sẽ là Lễ hội Ok Om Bok, chính là cái tết lớn của người Khơmer.

Còn bà Hoa thì nói rằng, ở chùa này có lệ, những người nghĩ rằng mình bị ai đó theo phá (vong người đã khuất theo phá nên hay gặp xui xẻo) thì có thể đến nhờ các sư tại chùa hóa giải bằng cách tắm gội, lăn hột gà và tụng kinh tiễu trừ những điều khó chịu, tức vong không quấy nhiễu nữa.

Tuy nhiên, tôi thì cho rằng, một khung cảnh bình an đến vậy, con người ta đến đây với lòng thành kính, chắc cũng sẽ thấy nhẹ nhàng trong tâm trí và mọi việc để được giải quyết minh mẫn nên có kết quả tốt như ý.  

ROBERTO BARATELLA